Việt Nam: Một năm nhìn lại

voa-du-tran-85TS Trần Vinh Dự, 1 & 2/1/2010

Năm 2009 có thể coi là một năm có nhiều biến động và thách thức đối với Việt Nam. Nhân dịp đầu năm dương lịch, Blog Góc nhìn Kinh tế điểm lại các sự kiện chính, các thành công cũng như thất bại của Việt Nam trong năm vừa qua.

Kỳ 1- Kinh tế VN trong năm 2009

Việt Nam bước vào năm 2009 trong khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang trên đà tăng tốc. Là một nước tăng trưởng dựa nhiều vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, VN chịu ảnh hưởng lớn từ doanh số xuất khẩu giảm sút và đầu tư nước ngoài thu hẹp. Trong 11 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của VN giảm 11.4% so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư nước ngoài trong 10 tháng đầu năm chỉ xấp xỉ 25% so với cùng kỳ năm trước. Đây là những thử thách to lớn đối với nền kinh tế và với chính phủ – với tư cách là người lèo lái con thuyền này.

Lèo lái tốt trong khủng hoảng: Trong bối cảnh như vậy, tăng trưởng kinh tế ước tính của năm 2009 vẫn lên tới 5.2% (sau khi đã khấu trừ lạm phát). Việt Nam là nước duy nhất trong khối ASEAN luôn tăng trưởng trong tất cả 4 quý của năm 2009. Thành tích tăng trưởng này được Ngân hàng Thế giới tán dương với nhận định “kinh tế Việt Nam chèo chống tương đối tốt qua cuộc khủng hoảng,” còn IMF thì tuyên bố Việt Nam chắc sẽ làm tốt hơn các nước láng giềng trong giai đoạn hồi phục.”

Duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối tốt trong điều kiện thế giới chìm đắm trong cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy thoái rõ ràng là thành tích ấn tượng nhất trong lĩnh vực quản lý kinh tế của chính phủ trong năm 2009.

Hình 1: Chỉ số VN-Index từ cuối 2008 tới nay. Nguồn: Bloomberg

Thị trường chứng khoán VN (TTCK) hồi phục: TTCK bắt đầu năm 2009 với VN-Index nằm ở mức 315 điểm, sau đó tụt xuống thấp nhất ở mức 235 điểm vào ngày 24 tháng 2 (giảm 25.4%). Từ đó tới nay, TTCK đã hồi phục mạnh mẽ, VN-Index đạt trần vào ngày 22 tháng 10 với mức 624 điểm, tức là tăng khoảng 100% so với hồi đầu năm và 165% so với thời điểm chỉ số này chạm đáy. Tuy nhiên, VN-Index đã liên tục giảm trở lại từ cuối tháng 10 và hiện nay chỉ còn ở mức 440 điểm (số liệu trong ngày 16 tháng 12). Đà giảm điểm này có lẽ còn kéo dài nữa do vấn đề thanh khoản (liquidity) trong hệ thống ngân hàng ở VN.

Thâm hụt mậu dịch và sức ép phá giá tiền tệ: Ngược lại với các điểm sáng kể trên, kinh tế Việt Nam vẫn còn đang gặp phải vô số khó khăn trong ngắn hạn. Thâm hụt mậu dịch quốc tế vẫn liên tục tăng từ hàng chục năm nay tạo nên sức ép thường trực lên giá trị của đồng VND. VN đã phải tuyên bố phá giá 5.4% giá trị đồng VND vào hồi cuối tháng 11 vừa rồi mặc dù chỉ vài ngày trước đó các chính trị gia hàng đầu của đất nước vẫn khẳng định như đinh đóng cột là không có chuyện phá giá.

Đầu tư nước ngoài ít thực chất: Do sức ép phải duy trì được thành tích kêu gọi vốn nước ngoài, Việt Nam đã phải chấp nhận cho FDI đi mạnh vào các khu vực “bong bóng” như bất động sản và du lịch thay vì vào các khu vực công nghệ, kỹ thuật, hạ tầng, hay giáo dục là các khu vực có tác dụng nâng cao năng suất của nền kinh tế về dài hạn. Tỉ lệ FDI đầu tư vào bất động sản trong năm 2008 là 36.8% và trong 10 tháng đầu năm 2009 là 30% ($5.67 tỉ trong tổng số khoảng $19 tỉ). Nếu tính cả số FDI đầu tư vào dịch vụ du lịch thì vốn FDI vào bất động sản và du lịch chiếm tới 76% trong tổng số vốn FDI đầu tư vào VN trong 10 tháng đầu năm 2009.

Khả năng trả nợ của quốc gia ngày càng bị đánh giá thấp: Xếp hạng tín dụng quốc gia đang ngày càng kém đi. Hiện nay các khoản nợ quốc gia của Việt Nam được Moody xếp hạng Ba3 và Standard & Poor’s xếp hạng BB. Hồi giữa năm 2008, Standard & Poor’s đã hạ thấp mức xếp hạng chỉ số tín dụng quốc gia của Việt Nam từ “ổn định” (stable) xuống “tiêu cực” (negative). Một báo cáo gần đây của Nomura còn khuyến cáo rằng Việt Nam đang đứng trước khả năng tiếp tục bị đánh tụt hạng tín dụng. Vì bị xếp hạng tín dụng thấp, khả năng huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài ngày càng khó khăn.

Cuộc đánh đổi giữa kiềm chế lạm phát và tăng trưởng tín dụng: Việt Nam hứng chịu sức ép lạm phát trong suốt cả năm 2009 do tăng trưởng tín dụng nhanh và giá nguyên vật liệu thô tăng. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tìm cách kiềm chế đà tăng này bằng cách yêu cầu các ngân hàng duy trì mức tăng tín dụng cả năm không quá 30%. Tuy nhiên, chỉ trong 11 tháng từ đầu năm, tăng trưởng tín dụng đã lên tới 36%. Vì thế, mức lạm phát cả năm hiện nay được dự tính sẽ vào khoảng 6.8%. Ngân hàng phát triển Châu Á hồi cuối tháng 9 vừa qua còn dự báo lạm phát của năm 2010 ở Việt Nam có thể lên tới 8.5% nếu chính phủ tiếp tục duy trì gói kích thích tài chính.

Để ngăn chặn khả năng lạm phát quá cao, hồi cuối tháng 11 này, NHNN đã phải tăng lãi suất cơ bản và yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) hạn chế cho vay vào các mục đích phi sản xuất. Hậu quả là nguồn tín dụng cho chứng khoán và nhà đất bị thu hẹp một cách bất ngờ. Chính vì vậy mà TTCK tiếp tục tụt dốc không phanh, còn thị trường bất động sản thì cũng được VNeconomy mô tả là “bong bóng đang xì hơi.”

Hiệu quả sử dụng vốn quá thấp: Một thước đo thường được sử dụng để xác định hiệu quả sử dụng vốn là Tỉ lệ vốn tăng thêm trên sản lượng (ICOR-Incremental Capital Output Ratio). Ti lệ này cho biết mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn trong sản xuất. ICOR càng cao có nghĩa là Việt Nam càng phải sử dụng nhiều vốn hơn chỉ để sản xuất ra một sản lượng như trước.

Nghiên cứu của Deutsche Bank cuối năm 2007 đã kết luận “không may là hiệu quả của vốn đầu tư của Việt Nam đã ngày càng kém đi trong nhiều năm trở lại đây. ICOR của Việt Nam [năm 2006] là 4.2, cao hơn nhiều so với Trung Quốc khi đó là 3.7 hay Ấn Độ là 3.3.” Theo một nghiên cứu được Intellasia trích đăng lại thì ICOR trong năm 2007 là 4.76.

Có vẻ như chỉ số này của năm 2009 còn kém hơn nữa. Khi được đề nghị dự báo về chỉ số cho năm 2009, ông Bùi Bá Cường của Tổng cục Thống kê đã trả lời: “Đầu tư của nhà nước tăng bất thường lên hơn gấp rưỡi – tính theo giá thực tế, mà tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 5,2% thì rõ ràng là ảnh hưởng đến ICOR rồi.”

Hiệu quả sử dụng vốn thấp đồng nghĩa với giá thành cao và khả năng cạnh tranh của hàng hóa ở Việt Nam sẽ phải kém đi tương đối. Điều này hoàn toàn bất lợi cho một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu. Các lãnh đạo của Việt Nam hiểu rõ vấn đề này, ngay đến như Tổng Bí thư CSVN Nông Đức Mạnh cũng bình luận: “ICOR tăng cao thế là rất đáng lo ngại nhưng cần có đánh giá thêm của các nhà khoa học.”

Nền kinh tế “chạy” không nhanh nhưng luôn “quá nóng”: Điểm đau đầu nhất mà chính phủ CSVN của Thủ tướng Dũng đang gặp phải có lẽ là kinh tế Việt Nam đang bị coi là ở trong tình trạng “quá nóng” mặc cho tốc độ tăng trưởng không thực sự cao nếu so sánh với tốc độ phát triển kinh tế của các nước Đông Á hay Trung Quốc một vài thập niên trước. Mấu chốt của vấn đề này có lẽ ở chỗ cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang bị mất cân đối nghiêm trọng và cần phải được điều chỉnh về cơ bản.

Hiện nay các chủ nợ như ADB đang kêu gọi Việt Nam nên tăng trưởng chậm lại và tập trung vào giải quyết các vấn đề đang tồn đọng, tái cấu trúc cơ cấu kinh tế nhằm duy trì được khả năng tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Nguồn: Deutsche Bank Research

Kỳ 2- Chính trị

Thay đổi đường lối đối ngoại với Mỹ và Trung Quốc: Năm 2009 đánh dấu một bước chuyển đổi quan trọng trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam. Điểm dễ thấy là Việt Nam đang tích cực tìm cách thúc đẩy quan hệ song phương với Hoa Kỳ. Trong những tháng cuối năm, lịch thăm viếng của lãnh đạo cấp cao CSViệt Nam tới Mỹ có thể nói là dày đặc: Chủ tịch Nguyễn Minh Triết thăm Mỹ vào tháng 9, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm thăm Mỹ vào tháng 10, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thăm vào tháng 11 còn Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh thì thăm Mỹ vào tháng 12. Phía Hoa Kỳ thì một mặt đang cân nhắc việc bán vũ khí cho Việt Nam, mặt khác đang tìm cách lôi kéo Việt Nam tham gia vào một tổ chức mậu dịch có tên là Hiệp định Đối tác Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership Agreement).

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tỏ ra cứng cỏi hơn và công khai hơn trong cách ứng xử với Trung Quốc ở Biển Đông. Từ đầu năm trở lại đây, báo chí trong nước liên tục đăng tải các sự kiện có liên quan tới Biển Đông. Các kênh truyền hình cũng làm các chuyên đề về Biển Đông trong khi các trường Đại học và các nhóm nghiên cứu thì tổ chức các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế nhằm thu hút sự chú ý của dư luận thế giới. Còn nhớ, cách đây chưa lâu, như hồi năm 2005, khi sự kiện hải quân Trung Quốc thảm sát dân thường Việt Nam trên Vịnh Bắc Bộ, việc đưa tin và thảo luận công khai về các vấn đề này vẫn bị coi là hết sức nhạy cảm.

Nỗ lực bang giao với Vatican chưa thành công: Trong nỗ lực đặt quan hệ ngoại giao với Vatican, Chủ tịch Triết đã hội kiến với Ðức giáo hoàng Bennedict XVI tại Vatican hồi giữa tháng 12 vừa rồi. Ngay trước buổi hội kiến này, Chủ tịch Triết đã trả lời báo Corriere della Sera rằng “chúng tôi đang xúc tiến để thiết lập bang giao chính thức với Vatican.” Cuộc gặp với Ðức giáo hoàng đã kéo dài tới 40 phút, gấp đôi thời lượng dự tính ban đầu. Thế nhưng kết cuộc thì hai bên vẫn chưa đi tới được thỏa thuận cuối cùng về việc thiết lập bang giao.

Theo các hãng tin nước ngoài, một trong những khúc mắc hai phía cần tập trung giải quyết là tài sản của Giáo hội bị chính phủ tịch thu sau năm 1954 ở miền Bắc, và sau 1975 ở miền Nam. Một vấn đề khác có lẽ cũng quan trọng không kém là việc Việt Nam từ trước tới nay vẫn dành quyền phủ quyết các quyết định bổ nhiệm nhân sự của Vatican trên lãnh thổ Việt Nam.

Nếu như Vatican chịu nhượng bộ Việt Nam trên vấn đề tranh chấp đất đai thì có lẽ sẽ là dấu chấm hết cho các cuộc đấu tranh đòi đất của các nhà thờ công giáo từ Bắc vào Nam.

Quản lý blog và hạn chế phản biện: Năm 2009 cũng đánh dấu bước chuyển biến mới trong chính sách của Việt Nam đối với giới bloggers và những người làm công tác phản biện. Tháng 8 năm qua được đánh dấu bởi một loạt các vụ bắt giữ những bloggers có tên tuổi ở Việt Nam như Bùi Thanh HiếuPhạm Đoan Trang. Từ phía chính quyền, bà Nguyễn Thanh Nga của Bộ Ngoại giao chỉ khẳng định họ bị bắt giữ vì “có những dấu hiệu xâm hại an ninh quốc gia.” Tuy nhiên bà Nga không nói rõ đó là các dấu hiệu gì, và những dấu hiệu này sau đó cũng không thấy được nhắc tới nữa.

Gần đây, từ đầu tháng 11 vừa qua, trang mạng Facebook – là trang được những người trẻ tuổi ở Việt Nam ưa chuộng – đã bị hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISPs) ở Việt Nam ngăn chặn. Facebook tuy không phải là một trang cung cấp dịch vụ blogging nhưng là một mạng lưới xã hội cực mạnh giúp người dùng nhanh chóng phổ biến các thông tin cho bạn bè và những người trong mạng lưới của mình. Theo VOA, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) của Việt Nam khẳng định họ không có liên hệ gì đến việc giới sử dụng Internet ở trong nước hiện không truy cập được trang mạng Facebook. Nếu VOA đưa tin đúng, thì tuyên bố này của Bộ TT&TT không có nghĩa facebook không bị chặn, mà chỉ có nghĩa việc chặn này không phải do Bộ TT&TT làm.

Liên quan tới phản biện, Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg do Thủ tướng Dũng ký hồi tháng 7 vừa rồi đã yêu cầu các tổ chức nghiên cứu “nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, cần gửi ý kiến phản biện đó cho cơ quan Đảng, nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ.” Việc này đã gây ra một số phản ứng trong giới nghiên cứu và phản biện chính sách. Điển hình nhất là sự kiện Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) đã tuyên bố đóng cửa vào ngày 14 tháng 9 vừa qua. IDS là một think tank tư nhân có uy tín vào bậc nhất ở Việt Nam do các nhà khoa học có tên tuổi thành lập. Sự kiện IDS giải thể để phản đối quyết định này đã gây ra chấn động khá lớn trong giới trí thức Việt Nam.

Vụ án xâm phạm an ninh quốc gia Lê Công Định: Năm 2009 cũng được đánh dấu bởi vụ án xâm phạm an ninh quốc gia liên quan tới luật sư Lê Công Định và các đồng sự của ông. Vụ án này gây chấn động lớn trong dư luận không phải vì tính nghiêm trọng của nó mà vì sự nổi tiếng cá nhân của những người bị bắt trong vụ án như Luật sư Định hay ông Nguyễn Tiến Trung và Trần Huỳnh Duy Thức cùng với việc nhà nước Việt Nam nhanh chóng công bố các video có ghi hình ảnh họ đọc biên bản nhận tội.

Khác với các vụ án của các thế hệ đi trước như Lê Chí Quang hay Nguyễn Khắc Toàn, vụ án liên quan đến nhóm của LS Định đã được giới trí thức, sinh viên, và các chuyên viên cổ cồn trắng nói chung đặc biệt quan tâm. Lý do như đã nói ở trên là vì sự nổi tiếng cá nhân của họ. Thí dụ như LS Định có vợ là một cựu hoa hậu, còn ông Nguyễn Tiến Trung thì đã từng hội kiến với nhiều chính khách lớn của nước ngoài. Tuổi tác, học vấn và sự thành đạt của họ cũng khiến họ được ngưỡng mộ và đồng cảm. Ngoài ra, nhận thức của công chúng thành thị ở Việt Nam cũng đã có những bước chuyển biến khá rõ nét so với hồi năm 2001.

Theo báo chí Việt Nam, nhóm của LS Định đã cấu kết với một số người Việt phản động ở nước ngoài nhằm thành lập ra các tổ chức đảng với mục tiêu lâu dài là cạnh tranh quyền lực với ĐCS. Nhà nước Việt Nam coi hoạt động này là vi phạm pháp luật (hiến pháp Việt Nam quy định ĐCS là đảng duy nhất có độc quyền lãnh đạo đất nước). Việt Nam trước đây từng có các đảng anh em bên cạnh ĐCS. Tuy nhiên, những người anh em này sau đó được cho là không cần thiết nữa nên đã tự nguyện giải thể.

Tiến sĩ Trần Vinh Dự

Nguồn : VOA

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: